Công hàm Phạm Văn Đồng & Thế trận Biển Đông – Phần I

Công hàm Phạm Văn Đồng & Thế trận Biển Đông – Phần I

Sự việc Alliance for Việt Nam’s Democracy – Liên Minh Vì Dân Chủ Cho Việt Nam, có
trụ sở ở Dallas, US, mang công hàm Phạm Văn Đồng ra Tòa án QUốc tế Việt Nam
trong thời điểm hiện tại (2023) là một việc làm đúng lúc. Việt Nam cần phải bảo vệ Biển
Đông nói riêng và đất nước nói chung phải hiểu rõ tham vọng và chiến lược xâm lăng
của Trung cộng (TC), hiểu rõ lập trường của các thế lực ngoại quốc mà Việt Nam có
thể nhờ cậy và nhất là sự điều hành bảo vệ đất nước của ĐCSBV. Tìm hiểu ba yếu tố
của TC như: - Tham vọng đường lưỡi bò, - Chiến lược tiến chiếm Biển Đông, và – Tìm
cách chia rẻ ASEAN; từ đó, toàn cảnh mối nguy bị xâm lăng mà dân tộc Việt Nam đang
phải đối diện sẽ hiện rõ ra, đồng thời lối thoát cũng sẽ dễ thấy hơn cho chúng ta.
A map of the country

Description automatically generated with low confidence
I. Âm mưu xâm lược của Trung cộng
1. Tham vọng đường lưỡi bò

Trong vài năm trở lại đây, Biển Đông
bỗng trở nên quan trọng vì giàu tài
nguyên hải sản, dầu khí và là hải lộ vận
chuyển thiết yếu cho các nước trong
vùng. Đối với Trung cộng, Biển Đông
đặc biệt góp phần vào sự phát triển và
còn trở nên không thể thiếu trên con
đường đi tới ngôi vị cường quốc thế giới.
Vì thế TC đã cả quyết tuyên bố tất cả
vùng biển bên trong đường lưỡi bò, bao
gồm các hải đảo, là ‘lợi ích cốt lõi’ của

họ, với tổng diện tích bao trùm 80% Biển Đông.
Thoạt đầu khi TC trưng ra đường lưỡi bò thì tưởng chừng như chỉ là “tham vọng” và TC
hoàn toàn không có khả năng đạt được mục tiêu. Nhưng nếu suy xét kỹ lưỡng thì có
thể nhận ra âm mưu độc chiếm Biển Đông ẩn hiện trong mọi lãnh vực địa lý, ngoại
giao, quân sự của họ và được tiến hành chậm rãi từng bước. Từ năm 1956 khi TC
chiếm đảo Phú Lâm (thuộc quần đảo Hoàng Sa) tới nay, họ đã lợi dụng thời cơ từng
bước lấn chiếm các hòn đảo ở Biển Đông mà kết quả là đã chiếm hoàn toàn quần đảo
Hoàng Sa và tới nay, đã kiểm soát ¾ khu vực Trường Sa! (theo nguồn tin của

Philippines). Ngày nay TC càng tỏ ra ‘quyết đoán’ trong mọi lãnh vực quân sự, kinh tế,
ngoại giao để xác định chủ quyền ‘không thể chối cãi’ của họ vùng lưỡi bò. Điều này
chứng tỏ họ đang thực hiện kế hoạch bá quyền khu vực: họ muốn là cường quốc duy
nhất trong vùng Biển Đông và biển Hoa Đông.
Vấn đề chủ quyền hay sở hữu các đảo nhỏ, bãi đá thuộc hai quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa chưa bao giờ được phân định rõ ràng trên bản đồ các quốc gia lân cận trên
bình diện quốc tế. Có lẽ vì các đảo quá nhỏ, không có nước ngọt, quá xa bờ hay dân
cư không thể sinh sống nên không có mấy nước để ý chiếm đóng. Nhưng kể từ khi kinh
tế TC và các nước trong vùng phát triển mạnh thì nhu cầu dầu khí trở nên yếu tố sống
còn, mà Biển Đông lại có khối dự trữ lớn. Bỗng nhiên các hòn đảo nhỏ xíu ở Biển Đông
trở nên quan trọng. Tuy nhiên đối với TC, Biển Đông còn mang 2 ý nghĩa quan trọng
hơn:
 Là con đường hàng hải vận chuyển đa số nguyên liệu sản xuất và hàng hóa cho
nền kinh tế TC và bàn đạp đầu tiên cần phải chinh phục để trở thành một cường
quốc biển.
 Về quân sự, ý nghĩa chiến lược của việc chiếm hữu các hòn đảo ở Biển Đông là
để đẩy lực lượng hải quân Mỹ ra khỏi khu vực, vì một khi TC xây dựng hàng loạt
các cơ sở quân sự với các dàn hỏa tiễn chống hạm trên nhiều hòn đảo ở Biển
Đông, thì hàng không mẫu hạm của Mỹ sẽ không dám mạo hiểm đi vào. Như thế
là đã đẩy Mỹ ra khỏi khu vực và hải quân TC sẽ làm chủ tình hình.
Do cần thiết phải chinh phục Biển Đông nên TC đã bất chấp luật lệ quốc tế (UNCLOS-
UN Convention on the Law of the Sea), ngang nhiên vẽ ra vùng lưỡi bò bao trùm toàn
khu vực và dựa vào sức mạnh để lấn chiếm, hay nói cách khác TC chỉ dùng luật rừng.
Đó là lý do tại sao TC luôn luôn tránh né các cuộc thảo luận quốc tế đa phương về Biển
Đông để phân chia chủ quyền, thay vào đó họ khăng khăng lập trường đối thoại song
phương; viện dẫn sự tranh chấp lãnh thổ là giữa TC với nước nào thì chỉ cần giải quyết
riêng rẽ với nước đó. Bằng cách này, TC có thể dùng sức mạnh vượt trội của họ để lấn
át đối phương.
Từ nhiều năm qua, ASEAN và Mỹ đã cố gắng lôi kéo TC vào bàn hội nghị đa phương
để giải quyết vấn đề Biển Đông nhưng tới nay vẫn chưa có kết quả. Chủ đích của TC là
mua thời gian để thực hiện công việc lấn chiếm từng bước, để đến khi, giả sử, nếu bị
áp lực quốc tế tới mức bắt buộc phải ngồi vào bàn hội nghị đa phương thì quân đội TC
đã có mặt trên hầu hết các hòn đảo, bãi đá ở Hoàng Sa, Trường Sa và hàng chục tàu
hải giám TC ngang nhiên đi lại trên khắp vùng Biển Đông như vùng biển của họ, tới lúc
này, thì dù có thương thảo cũng đã muộn, cuộc chiến cũng đã chấm dứt với toàn thể
Biển Đông nằm gọn trong vòng kiểm soát của TC!

Khi đẩy được tàu chiến của Mỹ ra khỏi khu vực chưa hẳn là công việc đã hoàn tất vì Mỹ
còn các mối liên minh quân sự, kinh tế với các nước trong vùng. Để loại bỏ hoàn toàn
ảnh hưởng của Mỹ ra khỏi mọi lãnh vực, nếu đương đầu trực tiếp với Mỹ thì sẽ không
phải là lựa chọn khôn ngoan, TC chọn phương pháp gián tiếp là nhắm vào các nước
nhỏ lân bang, để dễ đè bẹp hơn. Vì khi đã làm chủ về lãnh hải, kinh tế vùng Biển Đông
thì TC sẽ lợi dụng sức mạnh và ảnh hưởng của mình để áp lực những nước nhỏ phải

từ bỏ liên minh với Mỹ. Khi Mỹ không thể liên minh với các nước trong khu vực thì coi
như là sẽ mất dần ảnh hưởng và bị loại khỏi khu vực. Chiến thuật này cũng khá khả thi
vì điển hình Úc hiện đang có giao thương kinh tế lớn lao với TC và do áp lực của TC,
Mỹ đã không thể đặt căn cứ quân sự trên lãnh thổ Úc được (chỉ được mượn tạm căn
cứ quân sự của Úc thôi), cho dù Úc là đồng minh thân thiết nhất của Mỹ ở Á Châu.
2. Chiến lược tiến chiếm Biển Đông của TC
Từ khi kinh tế TC đạt được vị thế thứ nhì thế giới sau Mỹ vào năm 2010, phong
cách và lời ăn tiếng nói của lãnh đạo TC đã thay đổi dần sang thế đàn anh nước
lớn, răn đe các nước nhỏ trong khu vực và không còn che dấu tham vọng trở
thành cường quốc đứng đầu thế giới. Đối với khu vực Đông Nam Á, mưu đồ
bá quyền được thực hiện dưới hình thức thực dân kinh tế với sự phụ họa của lực
lượng hải quân đóng vai trò hăm dọa. Đầu tư ngoại quốc của TC chú trọng vào vấn đề
khai thác tài nguyên thiên nhiên như: ở Miến Điện với các loại quặng mỏ và đập thủy
điện, hay Việt Nam với dự án Bauxite do Nguyễn Tấn Dũng phê chuẩn. Cách thức TC
thực hiện các công trình khai thác tại ngoại quốc thường là dùng công nhân người Hoa
(di dân sang) là chính. Phương cách này nhằm thỏa mãn hai mục tiêu là giải tỏa áp lực
nạn nhân mãn trong nước và ‘cấy’ người để gây ảnh hưởng ở nước sở tại cho các nhu
cầu về sau. Mặt khác, TC còn tìm cách đạt được những thỏa thuận thương mại có lợi
để tiêu thụ hàng hóa thành phẩm từ TC bán sang. Đây là chính sách thực dân với chiếc
áo mới nhưng cũng cùng mục đích cũ của chính sách thực dân là khai thác nguyên liệu
sản xuất và bán lại thành phẩm. Những bước này là chính sách chung mà ta thấy TC
áp dụng đối với tất cả các nước trên thế giới, ngay cả Mỹ! Riêng đối với VN thì, ngoài
chuyện bị TC khai thác tài nguyên mọi mặt này, VN còn phải đối đầu với tham vọng
chiếm hữu toàn vùng Biển Đông của TC.
Chiếm hữu Biển Đông là một chuyện không phải dễ dàng vì có sự hiện diện của Mỹ. Vì
vậy TC đã phải ẩn mình một thời gian dài chuẩn bị để hiện đại hóa quân đội, đặc biệt là
hải quân, không quân và thành lập đội tàu tuần duyên hùng hậu cho kế hoạch lấn
chiếm Biển Đông. Ngày nay, hải quân TC là đội hải quân mạnh nhất Châu Á và đang
trên đường cạnh tranh với Mỹ. Cho dù với quân lực hùng mạnh nhưng giải pháp quân
sự là giải pháp nguy hiểm, tốn kém và còn có thể gây hại cho nền kinh tế đang trên
đường đi lên. Bằng một cách “giảo hoạt” hơn, chưa có tiền lệ, TC sử dụng lực lượng
hải giám bán quân sự. Với phương cách này, TC tránh được cuộc đối đầu trực tiếp với
hải quân Mỹ mà vẫn có thể đạt mục tiêu. Bắt nguồn từ chủ trương của Mỹ là chỉ quan
tâm vấn đề an ninh hàng hải, miễn là không có xung đột quân sự thì Mỹ sẽ không
nhúng tay vào. Hay nói cách khác, TC dùng phương pháp bán dân sự sẽ dễ dàng gạt
Mỹ ra khỏi các cuộc tranh chấp biển đảo, như trường hợp bãi cạn Scarborough của Phi
Luật Tân vừa qua.
Âm mưu độc chiếm Biển Đông của TC qua chính sách biển bằng đường lối bán quân
sự được thực hiện bằng chiến lược mà giới ngoại giao quốc tế thường gọi dưới tựa đề

‘chín con rồng khuấy động Biển Đông’. Chín con rồng là những lực lượng bán dân sự
như bộ hải giám, bộ tuần duyên, biên giới, hải quan (kiểm soát tàu bè ra vào cảng),
ngư chính hay các cơ phận tuần tiễu bờ biển của các tỉnh ven biển như Quảng Đông,
Quảng Tây, Hải Nam. Các bộ phận riêng lẻ này tự cho mình (hay có chỉ thị ngầm)
quyền bảo vệ chủ quyền biển đảo mà không thông qua bộ ngoại giao trung ương. Mục
đích của TC trong ý đồ này là để tránh bị quốc tế lên án về một kế hoạch có tính toán
trong tham vọng bá quyền. Mặt khác, việc đối đầu với các nước yếu kém như Việt Nam
hay Phi Luật Tân thì không cần đến tàu chiến quân sự mà chỉ với đội tàu hải giám hay
lực lượng tuần duyên của một tỉnh là cũng dư sức lấn át.
Chiến lược sử dụng các loại tàu dân sự trong vấn đề tranh chấp còn được lồng với
chiến thuật được đặt tên là ‘tằm ăn dâu’ (salami slicing); bằng cách giới hạn tầm mức
tranh chấp ở phạm vi nhỏ và lấn chiếm từng miếng nhỏ một, với từng nước một. Cách
này sẽ cho phép TC chủ động về địa điểm cũng như thời điểm gây hấn và tầm mức va
chạm cũng có thể kiểm soát được để không lớn đến mức phải làm thế giới phải báo
động. Chiến lược này chỉ có một khuyết điểm là phải mất thời gian dài mới chiếm trọn
Biển Đông.
Thử điểm lại tiến trình xâm chiếm trong quá khứ để hiểu rõ chiến thuật này. Về vấn đề
Hoàng Sa, TC đã chiếm Hoàng Sa từ năm 1974 từ VNCH; sau đó tiến hành bắt bớ và
xua đuổi tàu ngư dân VN lai vãng gần vùng Hoàng Sa, từ dấu diếm (với sự đồng lõa
của CSVN không dám nêu tên mà gọi là “tàu lạ”) tới công khai ra lệnh cấm như hiện
nay; tới việc thành lập cái gọi là ‘thành phố Tam Sa’, đặt bản doanh quân sự và xây
dựng cơ sở hành chính trên đảo Phú Lâm, và tới ngày nay quần đảo Hoàng Sa đã trở
thành trung tâm hành chánh của ‘huyện Tam Sa’ với hàng ngàn quân lính (khoảng
6,000 binh lính) có mặt trên khắp các đảo. Một ví dụ khác với Phi Luật Tân, trong xung
đột ở bãi cạn Scarborough năm 2012, TC đã chỉ điều tàu hải giám và tàu cá tới khu vực
theo kiểu lấy thịt đè người để xác lập chủ quyền, sau vài tuần lễ căng thẳng giữa hai
bên, lực lượng Phi Luật Tân yếu thế không thể ‘đuổi’ tàu hải giám và tàu cá TC ra khỏi
khu vực nên đành phải rút lui, trong khi đó thì Mỹ không muốn can thiệp vào vì tầm mức
xung đột chỉ ở hạng thấp, cho dù Phi có hiệp ước an ninh với Mỹ.
Về ngoại giao, TC cho in hình lưỡi bò vào thẻ thông hành, cho đấu thầu 9 lô dầu khí
trong thềm lục địa của VN, nộp lên LHQ bản đồ lãnh hải tuyên bố chủ quyền toàn vùng
lưỡi bò ở Biển Đông bao gồm các hải đảo, cho phép nhà cầm quyền đảo Hải Nam
‘chặn và lục soát tàu nước ngoài’ vùng Biển Đông.

Về kinh tế, TC còn dùng mãnh lực kinh tế mua chuộc vài nước trong khối ASEAN để
tạo mối chia rẽ giữa các nước, ngăn cản sự kết hợp thành khối đoàn kết để đối đầu với
họ, như thái độ thân TC của Cam Bốt và Thái Lan hiện nay.
Về quân sự, TC tiến hành các cuộc tập trận dưới nhiều hình thức để đe dọa các nước
trong vùng, gia tăng ngân sách quốc phòng, sản xuất các loại tàu chiến và máy bay
mới, gia tăng xây dựng hạm đội tàu hải giám, hoàn chỉnh chiến lược chống tiếp cận
(anti-access) với mục đích đe dọa hạm đội Mỹ cũng như hải quân các nước lân cận.

TC đã và đang thành công với chiến lược lấn chiếm dưới hình thức bán quân sự này và
một điều nguy hiểm hơn nữa là TC muốn biến vùng Biển Đông thành ‘vùng tranh chấp’,
có nghĩa là vùng biển Hoàng Sa, Trường Sa, vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của VN
biến thành ‘vùng tranh chấp’ với TC! Điển hình trên các báo chí quốc tế và dư luận Mỹ
hiện nay cũng đang bắt đầu xem vùng Biển Đông thuộc loại vùng tranh chấp chứ không
phải vùng đặc quyền kinh thế của VN hay Phi Luật Tân theo tiêu chuẩn UNCLOS. Vì
xem là vùng tranh chấp nên sự đòi hỏi chủ quyền toàn Biển Đông của TC cũng tự nhiên
được chấp nhận và TC đi từ chỗ không có gì trở nên có phần chủ quyền phải được giải
quyết. Cụ thể là: dư luận quốc tế đang đề nghị giải pháp cho Biển Đông là ‘cùng khai
thác’ (joint management) khu vực tranh chấp, dĩ nhiên TC cũng có phần!

3. Tìm cách chia rẽ ASEAN
Chiến lược ‘tằm ăn dâu’ còn kèm theo
một chi tiết khác là nguyên tắc ‘song
phương’ mà TC luôn nhấn mạnh và
cương quyết theo đuổi thay vì đa
phương. Nhưng làm thế nào chủ động
trong chủ trương song phương? Về tổ
chức ASEAN, TC đã lợi dụng sự khác
biệt quyền lợi giữa 10 nước thành viên
để lôi kéo đồng minh. Trong chuyện Biển
Đông, chỉ có 4 nước liên hệ có tuyên bố
chủ quyền ở Biển Đông là Việt Nam, Phi
Luật Tân, Mã Lai và Brunei; trong đó hai nước có phần bờ biển dài nhất là Việt Nam và
Phi Luật Tân. VN và Phi là hai nước muốn đưa vấn đề tranh chấp Biển Đông ra bàn
thảo ở hội nghị ASEAN hàng năm, nhưng TC đã dùng món mồi kinh tế để gây chia rẽ;
như đã diễn ra vào năm 2012 ở Nam Vang dưới sự chủ tọa của Cam Bốt. Kết quả là
quy tắc ứng xử COC vẫn chưa đạt tới và TC thoát khỏi việc phải đàm phán đa phương
(với các nước ASEAN) về chuyện Biển Đông.

Trong khi đó ở Biển Đông, TC thực hiện tấn công từng nước một để cô lập hóa sự
kháng cự, như khi TC lấn chiếm Scarborough của Phi, chẳng nước nào trong ASEAN
lên tiếng bênh vực vì không ai muốn bị rắc rối với TC trong giao thương kinh tế. Trường
hợp tương tự cũng sẽ xảy nếu TC xâm lấn biển đảo của VN, sẽ chỉ có một mình VN
phải tự phòng thủ. Chúng ta đã thấy chuyện nầy đã xảy ra từ năm 2014, từ khi TC cho
đặt giàn khoan HD981 trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam cũng như đánh chìm
và cướp các tàu đánh cá Việt từ đó đến nay. TC đã lợi dụng từng khe hở giữa các
nước ASEAN để gây chia rẽ dưới mọi hình thức.

Mai Thanh Truyết
Nhóm ChốngTàu Diệt Việt Cộng

Comments

Đươc Xem Nhiều Nhất